Tích cực hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật.
Văn bản triển khai và quy phạm pháp luật mới
QUY ĐỊNH MỚI VỀ NỘP THUẾ VÀ KÊ KHAI THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Cập nhật 07/12/2021 15:12 Xem với cỡ chữ

1) Tại điểm d khoảng 6 Điều 8 quy định Thuế thu nhập cá nhân đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công; cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập; cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế. Cụ thể như sau:

- Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi trả, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cụ thể như sau:

+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện việc quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới theo quy định tại điểm nêu trên khoản này thì cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới.

+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm; đồng thời có thu nhập văng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân với cơ quan thuế trong các trường hợp sau đây:

Có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo, trừ các trường hợp sau: cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống; cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo; cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này; cá nhân được người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm mà người sử dụng lao động hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đã khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm tương ứng với phần người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động thì người lao động không phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập này.

Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công đồng thời thuộc diện xét giảm thuế do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì không ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế thay mà phải trực tiếp khai quyết toán với cơ quan thuế theo quy định.

2) Điều kiện khai thuế theo quý đối với người nộp thuế thuộc diện khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng

- Theo quy định, trường hợp người nộp thuế thuộc diện khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng nếu đủ điều kiện khai thuế giá trị gia tăng theo quý thì được lựa chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo quý.

- Việc khai thuế thu nhập cá nhân theo quý được xác định một lần kể từ quý đầu tiên phát sinh nghĩa vụ khai thuế và được áp dụng ổn định trong cả năm dương lịch. (Điểm a Khoản 1 Điều 8, Khoản 1 Điều 9)

3) Nộp hồ sơ khai thuế dù không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân

- Cụ thể, tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi trả, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế.

Trước đây, theo điểm a.1 khoản 1 Điều 16 Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý thì không phải khai thuế.

- Tương tự, theo quy định mới thì việc miễn nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân không có quy định áp dụng đối với  tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Vì vậy, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công dưới mức giảm trừ gia cảnh (11 triệu đồng/tháng) không phải nộp thuế thu nhập cá nhân nhưng tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn phải thực hiện khai thuế. (Điểm b Khoản 3 Điều 7; Điểm d.1 Khoản 6 Điều 8).

- Cá nhân có thu nhập được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân và cá nhân có số tiền thuế phát sinh phải nộp hằng năm sau quyết toán thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công từ 50.000 đồng trở xuống thì không phải nộp hồ sơ khai thuế; trừ cá nhân nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản; chuyển nhượng bất động sản. (Khoản 3 Điều 7)

Trên đây những điểm mới về thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Nghị định 126 của Chính phủ./.

 

                                                                                             Mỹ Dung                                                                                                  ​ 
CÁC TIN KHÁC
» Chức năng nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và UBND hyện, quận, thị xã thành phố trực thuộc Trung ương (14/10/2022 08:24)
» Sở Xây dựng triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng tại Hội nghị tập huấn báo cáo viên pháp luật quý II/2021. (07/12/2021 14:55)
» Nghị định 30/2021/NĐ-CP sửa đổi việc bàn giao kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu theo luật nhà ở năm 2014 (07/12/2021 14:52)
» Giới thiệu Nghị định số 30/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật nhà ở. (07/12/2021 14:51)
» báo cáo thống kê ngành Xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2021 (24/11/2021 14:45)
» Triển khai, phổ biến Thông tư số 04/2021/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng (16/08/2021 10:37)
» báo cáo thống kê ngành Xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 6 tháng đầu năm 2021 (11/05/2021 08:41)
» Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 62/2020/QH14. (17/03/2021 16:08)
» triển khai Văn bản số 66/BXD-KHCN ngày 08/01/2021 của Bộ Xây dựng Tăng cường công tác quản lý đảm bảo an toàn lao động trong thi công xây dựng (02/03/2021 15:52)
» triển khai thực hiện Thông tư số 04/2020/TT-BXD ngày 30/12/2020 của Bộ Xây dựng (02/03/2021 15:49)
1 - 10 Next
Chịu trách nhiệm chính: Ông HỒ VĂN HÀ - Giám đốc Sở Xây Dựng tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: Số 38, Đường Phan Chu Trinh, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 02513.846283 - Fax: 02513.847795. Email: sxd@dongnai.gov.vn
Bản quyền thuộc về Sở Xây Dựng tỉnh Đồng Nai
® Ghi rõ nguồn "Sở Xây Dựng Đồng Nai" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.

Phát triển bởi TTCNTT-TT Đồng Nai